Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

CHỮA VIÊM DA CƠ ĐỊA Ở ĐÂU?


Thuốc điều trị
- Tư vấn cho người bệnh tránh chà xát, không gãi là một việc rất quan trọng. Đồng thời cho các thuốc bôi, thuốc uống chống ngứa cho bệnh nhân. Bôi kem giữ ẩm rất cần thiết để tránh ngứa, hạn chế tái phát. Loại trừ và tránh các chất gây dị ứng như đề cập ở trên.
Điều trị viêm da cơ địa cần rất cẩn trọng, có sự hợp tác rất chặt chẽ giữa thày thuốc và người bệnh, đối với trẻ nhỏ là bố mẹ bệnh nhân. Tuỳ theo giai đoạn bệnh là cấp tính, bán cấp hay mạn tính mà cho thuốc bôi phù hợp.
- Viêm da cơ địa cấp tính: cần đắp ẩm thương tổn và bôi kem   corticoit +  kháng sinh. Cho kháng sinh uống để chống tụ cầu trùng vàng. Kháng histamin chống dị ứng và chống ngứa.
- Viêm da cơ địa bán cấp và mạn tính được điều trị bằng các thuốc sau:
+ Làm ẩm da bằng kem bôi hoặc sữa tắm có kem.
+ Thuốc corticosteroid: rất có hiệu quả đối với viêm da cơ địa nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ nguy hại nếu dùng lâu dài.
+ Các thuốc chống viêm khác không phải corticosteroid như tacrolimus có thể thay thế corticosteroid mà không gây các tác dụng phụ như thuốc này và có thể dùng lâu dài, thuốc có thể chống viêm và chống ngứa.
+ Uống kháng histamin chống ngứa.
+ Một số trường hợp nặng có thể uống corticoid, nhưng cần có chỉ định chặt chẽ của thày thuốc.
+ Các phương pháp điều trị khác: UVA, UVB, các thuốc như cyclosporin...
Phác đồ điều trị một bệnh nhân viêm da cơ địa:
- Chống khô da bằng các thuốc dưỡng ẩm.
- Điều trị bằng bôi corticosteroid trong thời gian ngắn, sau đó duy trì bôi tacrolimus + dưỡng ẩm thời gian dài để tránh tái phát bệnh.
- Chống nhiễm tụ cầu bằng thuốc kháng sinh bôi hoặc uống.
- Kháng histamin chống ngứa.
TS. BS. TTƯT. Nguyễn Duy Hưng
(Tổng thư ký Hội Da liễu Việt Nam
                                    THUỐC CHỮA VIÊM DA CƠ ĐỊA TỐT NHẤT

VIÊM DA CƠ ĐỊA LÀ GÌ





Viêm da trên cơ địa dị ứng - Phần 1

Viêm da do cơ điạ dị ứng là gì?


Viêm da trên cơ địa dị ứng (viêm da dị ứng rải rác) là một bệnh về da mạn tính trong đó da xảy ra hiện tượng viêm. “Cơ địa dị ứng” liên quan đến những bệnh có tính chất di truyền theo gia đình bao gồm hen, bệnh sốt mùa hè và viêm da dị ứng rải rác. Trong viêm da dị ứng rải rác, da trở nên ngứa và viêm dữ dội khiến nó đỏ, sưng, rạn nứt, rỉ nước, đóng và bong tróc vảy.


Viêm da dị ứng rải rác hầu hết xảy ra ở nhũ nhi và trẻ nhỏ nhưng cũng có thể diễn tiến đến lúc trưởng thành hoặc có thể xảy ra lần đầu tiên lúc lớn tuổi. Trong hầu hết trường hợp thì bệnh có những giai đoạn nặng lên được gọi là đợt kịch phát, tiếp sau đó là giai đoạn thuyên giảm, trong đó tình trạng da được cải thiện hoặc lành lặn hoàn toàn.


Nhiều trẻ mắc bệnh viêm da dị ứng rải rác lui bệnh hoàn toàn khi lớn mặc dù da vẫn còn khô và dễ bị kích thích. Đối với những người có cơ địa dị ứng di truyền này thì yếu tố môi trường có thể làm khởi phát các triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác vào bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời.


Sự khác biệt của viêm da dị ứng rải rác và chàm (eczema)


Chàm (eczema) là một thuật ngữ chung cho nhiều loại viêm da trong đó viêm da dị ứng rải rác là loại thường gặp nhất. Một số dạng khác cũng có các triệu chứng tương tự. Sau đây là sơ lược một số loại chàm.


Các loại chàm (eczema):


Viêm da dị ứng rải rác:là một bệnh da mạn tính đặc trưng bởi hiện tượng ngứa, da bị viêm.


Eczema tiếp xúc: là một phản ứng khu trú bao gồm đỏ, ngứa và nóng tại vùng da tiếp xúc với dị nguyên (là chất gây dị ứng) hoặc với một chất kích thích như acid, dung dịch tẩy rửa, các loại hoá chất khác.


Eczema dị ứng do tiếp xúc: là một phản ứng đỏ, ngứa, rỉ nước tại vùng da tiếp xúc với một chất mà hệ thống miễn dịch của cơ thể xem là vật lạ như cây sơn độc hoặc một số chất bảo quản trong kem, thuốc rửa vết thương.


Eczema tiết nhờn: là một dạng viêm da chưa rõ nguyên nhân, biểu hiện những mảng da vàng, đóng vảy, nhờn trên da đầu, mặt và đôi khi ở các phần khác của cơ thể.


Eczema đồng xu: những mảng hình đĩa hay hình đồng tiền trên da bị kích thích có thể đóng, bong vảy và rất ngứa, vị trí thường ở tay, lưng , mông và cẳng chân.


Viêm bì thần kinh: những mảng da đóng vảy ở đầu, cẳng chân, cổ tay hoặc cẳng tay do một vết ngứa khu trú (như khi bị côn trùng cắn) và có thể tăng kích thích nếu gãi.


Viêm da tắc nghẽn: là một tình trạng da vùng cẳng chân bị kích thích thường liên quan đến các vấn đề của hệ tuần hoàn.
Eczema loạn tiết mồ hôi: tình trạng kích thích da lòng bàn tay hay bàn chân đặc trưng bởi những bọc nước lớn gây ngứa và nóng.


Viêm da dị ứng rải rác có hay gặp không?


Viêm da dị ứng rải rác rất hay gặp. Bệnh tác động như nhau ở cả nam giới lẫn nữ giới và chiếm khoảng 10%-20% các trường hợp khám bác sĩ da liễu. Viêm da dị ứng rải rác hay xảy ra nhất ở nhủ nhi và trẻ em và xuất độ giảm rõ rệt theo tuổi. Người ta ước lượng khoảng 65% bệnh nhân bị bệnh vào năm đầu tiên của cuộc đời và nếu tính các trường hợp mắc bệnh trước 5 tuổi thì chiếm khoảng 90%.


Bệnh hiếm khi khởi phát sau 30 tuổi và nếu có thì thường là sau khi da tiếp xúc với những điều kiện khắc nghiệt. Đối với những người dân sống ở đô thị và những vùng khí hậu có độ ẩm thấp thì nguy cơ mắc phải viêm da dị ứng rải rác dường như cao hơn.
Có khoảng 10% trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ biểu hiện các triệu chứng của bệnh. Gần 60% những trẻ nhũ nhi này sẽ tiếp tục có một hoặc nhiều triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác thậm chí khi đã trưởng thành.


Nguyên nhân của viêm da dị ứng rải rác


Nguyên nhân vẫn chưa được rõ, nhưng có lẽ là do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường. Các bằng chứng đã gợi ý rằng bệnh hay đi cùng nhóm bệnh có cơ địa dị ứng như bệnh sốt mùa hè và hen vốn rất hay xuất hiện ở những người viêm da dị ứng rải rác.


Thêm vào đó, nhiều trẻ bị viêm da dị ứng rải rác cũng bị sốt mùa hè và hen suyễn. Mặc dù không phải một bệnh này gây ra một bệnh khác nhưng chúng có liên quan đến nhau do đó là cơ sở để các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về viêm da dị ứng rải rác.
Trước đây, người ta nghĩ rằng viêm da dị ứng rải rác là do rối loạn cảm xúc. Ngày nay thì chúng ta biết rằng những yếu tố xúc cảm như stress chỉ thúc đẩy chứ không phải là nguyên nhân gây bệnh.


Viêm da dị ứng rải rác có lây nhiễm?


Câu trả lời là KHÔNG. Viêm da dị ứng rải rác hoàn toàn không lây nhiễm nghĩa là nó không thể truyền từ người này sang người khác. Do đó không có gì phải e ngại khi sống gần ai đó đang trãi qua thời kỳ hoạt động của viêm da dị ứng rải rác.


Các triệu ứng của viêm da dị ứng rải rác là gì?


Các triệu chứng thay đổi tùy người. Triệu chứng hay gặp nhất là da khô, ngứa, nứt nẻ vùng da sau tai và nổi ban ở hai má, tay và chân. Ngứa là yếu tố quan trọng trong viêm da dị ứng rải rác khiến người bệnh gãi, chà xát do đó làm nặng thêm tình trạng viêm da. 
Người bệnh rất nhạy cảm với ngứa và thúc đẩy nhu cầu gãi lâu hơn từ đó đi vào một tình trạng gọi là chu kỳ “ngứa-gãi”. Ngứa lại là một vấn đề đặc biệt trong lúc ngủ khi khả năng kiểm soát gãi bị giảm đi và cảm giác ngứa tăng lên do mất các kích thích bên ngoài khác.


Ảnh hưởng của viêm da dị ứng rải rác lên da thay đổi theo thói quen gãi và nhiễm trùng da đi kèm. Một vài người do hệ miễn dịch bị hoạt hoá quá mạnh nên da vùng đó bị đỏ, đóng vảy; một số khác do gãi và chà xát nhiều nên da trở nên dày, dai. Hiện tượng này được gọi là “liken hoá” hay là “hằn cổ trâu”.


Một số nhỏ khác thì xuất hiện những nốt sần hay những vết sưng nhỏ trên da. Khi gãi những nốt sần này, chúng có thể vỡ ra, đóng vảy và nhiễm trùng. Các tính chất của da bệnh sẽ được đề cập bên dưới. Chúng cũng có thể xuất hiện ở những người không bị bệnh hay bị các bệnh về da khác.


Viêm da có ảnh hưởng đến khuôn mặt không?


CÓ. Viêm da dị ứng rải rác có thể ảnh hưởng đến vùng da xung quanh mắt, mi mắt, lông mày và lông mi. Gãi vùng quanh mắt có thể làm thay đổi da vùng đó. Một vài người viêm da dị ứng rải rác có nhiều nếp gấp da xung quanh mắt gọi là nếp gấp trên cơ địa dị ứng hay nếp Dennie-Morgan.


Những người khác có thể có tăng sắc tố vùng mi mắt nghĩa là da vùng đó sậm màu do phản ứng viêm hay sốt mùa hè (mắt thâm do dị ứng). Gãi hay chà xát có thể cũng có thể khiến lông mày và lông mi xuất hiện những vết lốm đốm.


Loại da trong viêm da dị ứng rải rác có quan trọng không?


CÓ. Những khác biệt giữa da của những người bị viêm da dị ứng rải rác có thể góp phần vào những triệu chứng của bệnh. Lớp ngoài cùng của da là thượng bì được chia làm hai phần: phần bên dưới bao gồm các tế bào sống, ẩm ướt trong khi lớp ngoài bao gồm các tế bào đã chết, khô, bằng phẳng.


Bình thường, lớp ngoài cùng đóng vai trò như một hàng rào giữ cho phần còn lại của da khô ráo và bảo vệ các lớp khác không bị tổn thương do những chất kích thích, nhiễm trùng. Khi hàng rào này bị tổn thương hoặc mỏng đi, các chất kích thích sẽ tác động lên da mạnh hơn.


Da của bệnh nhân viêm da dị ứng rải rác mất nhiều độ ẩm trong lớp thượng bì dẫn tới rất khô và do đó làm giảm tính bảo vệ. Thêm vào đó, da sẽ rất nhạy cảm đối với các bệnh lý có tính chất chu kỳ như nhiễm trùng da do liên cầu và tụ cầu, mụn cóc, nhiễm herpes simplex và u mềm biểu mô (một bệnh do siêu vi).


Các tính chất da trong viêm da dị ứng rải rác


“Liken hoá” hay “hằn cổ trâu”: da dày, dai do gãi hay cọ sát liên tục.


Nốt sần: những vết sưng nhỏ có thể vỡ ra khi gãi, có thể đóng vảy và nhiễm trùng.


Bệnh vảy cá: những mảng đóng vảy hình tứ giác, khô trên da.


Bệnh dày sừng nang lông: những vết sưng tròn, nhỏ thường ở mặt, cánh tay và đùi.


Tăng đường chỉ tay: gia tăng số lượng nếp da trong lòng bàn tay.


Nổi mề đay: những vết sưng đỏ thường là sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, tại thời điểm bắt đầu vùng da tổn thương, hoặc sau khi tập thể dục, tắm nước nóng.


Viêm môi: hiện tượng viêm ở trên và xung quanh môi.


Nếp Dennie-Morgan: nhiều nếp gấp da dưới mắt.


Tăng sắc tố mi mắt: mi mắt sậm màu sau phản ứng viêm hay sốt mùa hè.

                            CHỮA KHỎI VIÊM DA CƠ ĐỊA BẰNG ĐÔNG Y

VIÊM DA CƠ ĐỊA Ở NGƯỜI LỚN



1.  Khái niệm
            Viêm da cơ địa là biểu hiện ngoài da của cơ địa atopy. Theo thống kê hàng năm của ngành Da liễu bệnh chiếm từ 20 - 25% tổng số các bệnh ngoài da. Bệnh hay gặp ở trẻ từ 2 - 24 tháng tuổi, tuy nhiên cũng có thể gặp ở thanh thiếu niên và người lớn. Theo Degos.R trẻ dưới 7 tuổi chiến từ 80 - 90% và khoảng 10% kéo dài đến tuổi trưởng thành.
            Bệnh tuy không gây tử vong nhưng gây ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt, tâm lý và năng suất lao động của người bệnh. Tỷ lệ bệnh ngày càng tăng do nhiều lý do khác nhau như sự xuất hiện các dị nguyên trong không khí ngày càng tăng, sử dụng hoá chất trong đời sống sinh hoạt ngày càng nhiều (Lê Kinh Duệ - Nội san Da liễu Số l/2000).
2. Nguyên nhân và căn sinh bệnh học: Viêm da cơ địa là một phản ứng viêm, bệnh phát sinh dựa vào 2 yếu lố là tác nhân kích thích và cơ địa dị ứng.
2.1. Tác nhân kích thích (dị ứng nguyên)
            - Tác nhân ngoại giới: gồm các yếu tố tác động từ bên ngoài vào cơ thể con người (yếu tố vật lý hoá học, sinh học...)
            - Tác nhân nội giới: Gồm tất cả các rối loạn chức phận nội tạng (bệnh tiêu hoá, nội tiết...) đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên bệnh viêm da cơ địa.
2.2. Cơ địa dị ứng
            Dù nguyên nhân ngoại giới hay nội giới đều liên quan đến cơ địa đặc biệt của cơ thể dẫn đến phản ứng dị ứng.
2.3. Sự liên quan đến gen di truyền
            Trên thực tế bệnh có tính chất gia đình rõ rệt: Nếu cả bố và mẹ đều bị bệnh dị ứng thì 75% con cái của họ bị viêm da cơ địa, nếu chỉ có mình bố hoặc mẹ thì tỷ lệ này là 58%
2.4. Sự liên quan đến gen bệnh
            Gần đây người ta đã phát hiện ra các gen có liên quan tới bệnh nhân viêm da cơ địa như gen của các Cytokines IL4, IL5; gen Chymase của dưỡng bào Mastocyte, gen của thụ thể
IL4 hoặc chuỗi β có thụ thể ái tính với IgE, thụ thể này không có ở trên da người bình thường, còn da tại vùng tổn thương của bệnh nhân viêm da cơ địa, thụ thể này tăng cao.
3. Tiến triển chung của viêm da cơ địa
3.1. Giai đoạn tấy đỏ: Bệnh nhân có cảm giác ngứa dấm dứt trên da, sau đó nổi ban đỏ hoặc đám dát đỏ, hơi cộm, ranh giới không rõ rệt kèm theo có phù nhẹ.
3.2. Giai đoạn mụn nước: Trên dát đỏ xuất hiện mụn nước nhỏ ly ty như hạt kê, hạt tấm kích thước từ 1- 2mm. Mụn nước rất nông chứa dịch trong, sắp xếp thành mảng dày chi chít, rất ngứa.
3.3. Giai đoạn chảy nước: Mụn nước tự vỡ hoặc do bệnh nhân gãi, chảy dịch dính nhớp, có khi dàn dụa trên bề mặt tổn thương. Tại mụn nước vỡ để lại vết chợt nhỏ, nông dịch chảy ra liên tục (hiện lượng giếng chàm).
3.4. Giai đoạn đóng vảy tiết: Chất dịch khô lại đóng thành vảy tiết màu vàng nhạt, vảy mỏng có thể tự bong ra hoặc bong do gãi.
3.5. Giai đoạn lên da non: vảy tiết bong đi để lại lớp da mỏng, dần dần trên lớp da non mới
tái tạo bị rạn nứt gây bong vảy da như phấn, như cám, hết đợt này đến đợt khác. Cuối cùng da trở lại mền mại như bình thường.
4. Lâm sàng
4.1.Viêm da cơ địa ở trẻ hài nhi và ấu thơ: Thường gặp ở trẻ từ vài ngày tuổi đến 24 tháng tuổi với tổn thương là dát đỏ trên có nhiều mụn nước nhỏ li ti tập trung thành từng đám, dập vỡ chảy dịch dính nhớp, có thể có mủ, có vảy tiết nếu nhiễm trùng thứ phát. Vị trí lúc đầu ở một bên má sau lan sang má bên kia, đối xứng hình cánh bướm (trừ sống mũi và mồm), tổn thương lan lên trán tạo thành hình móng ngựa, tổn thương có thể ở quanh miệng, cằm, cổ, đầu, thân mình. Bệnh có thể tự khỏi khi trẻ sau 2 tuổi.
4.2. Viêm da cơ địa ở trẻ em và thanh thiếu niên: Xuất hiện ở trẻ trên 2 tuổi đến tuổi dậy thì. Tổn thương ở má, trán hoặc ở khoeo chân, khuỷu tay, đầu gối, có tính chất đối xứng.
            Ngoài tổn thường là mụn nước, dát đỏ còn có sẩn huyết thanh, da khô, dày da liken hoá (hằn cổ trâu)
4.3. Viêm da cơ địa ở người lớn: Bệnh xuất hiện từ bé, tái phát nhiều lần, tổn thương còn ít chủ yếu là dày da, thâm da, liken hoá, khu trú ở khoeo chân, khuỷu tay, đối xứng. Bệnh nhân thường kèm theo bị các bệnh dị ứng khác như hen phế quản, dị ứng thời tiết, dị ứng thức ăn.
5. Chẩn đoán
5.1. Chẩn đoán xác định
            - Ở hài nhi hoặc ấu thơ: đám da đỏ, mụn nước nhỏ li ti, đối xứng 2 bên má, tổn thương có thể ở trán, cằm.
            - Ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên: mụn nước, sẩn huyết thanh, đối xứng 2 má, 2 cẳng tay, cẳng chân.
            - Ở người lớn: da dày, thâm, đối xứng, ngứa dai dẳng, có thể kèm theo bệnh dị ứng khác.
5.2. Chẩn đoán phân biệt
            - Ghẻ: Tổn thương là mụn nước trong, bóng rải rác ở vùng da mỏng, da non. Có luống ghẻ, khều được cái ghẻ, có yếu tố dịch tễ.
            - Tổ đỉa: Tổn thương là mụn nước ở sâu, cứng chắc khó vỡ và có thể tự tiêu. Vị trí ở lòng bàn tay bàn chân hoặc rìa các ngón tay, ngón chân
            - Hắc lào: Tổn thương là dát đỏ hình tròn, hình bầu dục, ở rìa tổn thương có mụn nước, ở giữa có xu hướng lành, hay gặp ở vùng da ẩm, ứ đọng mồ hôi.
6. Điều trị
6.1. Nguyên tắc điều trị
            - Tuỳ từng giai đoạn của bệnh mà dùng thuốc điều trị tại chỗ cho thích hợp.
            - Phối hợp điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân.
            - Hạn chế các kích thích da
            - Nếu có điều kiện thì dùng các liệu pháp làm thay đổi cơ địa của bệnh nhân
5.2. Điều trị cụ thể
* Tại chỗ:
            - Giai đoạn cấp tính (đỏ rực, phù nề, chảy nước): dùng dung dịch Jarish hoặc dung dịch KMnO4 1/8000- 1/10.000 ngâm hoặc đắp tổn thương sau đó bôi dung dịch màu như: xanh Methylen, tím Gentian...
            - Giai đoạn bán cấp (da hết phù, đỏ ít, chảy nước ít): Bôi kem Flucinar, kem Gentnsone, kem kẽm.
            - Giai đoạn mạn tính (dày da, thâm da, ngứa dai dẳng): dùng thuốc bạt da mền vảy như: Bensosaly, Salisile, Diprosalic, Goudron
* Toàn thân:
            - Dùng kháng Histamin tổng hợp như: Chlopheniramin, Dimedrrol, Citinzin...
            - Giải mẫn cảm: Histaglobin, Canxiclorua, máu tự thân
            - Kháng sinh nếu nhiễm trùng.
7. Chăm sóc bệnh nhân
7.1. Với  bệnh nhân là trẻ hài nhi và ấu thơ
7.1.1. Nhận định chăm sóc
            - Tổn thương da tấy đỏ, ngứa
            - Có mụn nước, chảy dịch, có vảy tiết
7.1.2. Chẩn đoán chăm sóc
            - Giãn mạch tại chỗ.
            - Có hiện tượng xốp bào do tăng tiết histamin
7.1.3. Kế hoạch chăm sóc (Mục tiêu chăm sóc)
Cải thiện các dấu hiệu lâm sàng:
                        + Can thiệp hiện tượng giãn mạch và xốp bào
                        + Hạn chế kích thích, chà sát tổn thương.
7.1.4. Thực hiện can thiệp
            - Tại chỗ bằng dùng gạc sạch thấm các dung dịch sát khuẩn như: NaCl 0,9%, KmnO4 1/8.000 - 1/10.000 trong vòng 30 phút, sau đó dùng gạc sạch thấm khô bôi tổn thương bằng các dung dịch màu sát khuẩn như xanh methyle 2%, milian....
            - Thuốc bôi tại chỗ phải tuỳ thuộc vào giai đoạn, không nên dùng thuốc bôi có nồng độ cao hoặc bôi trên diện rộng, đặc biệt là trẻ em
            - Các thuốc có thành phần corticoide không nên bôi kéo dài
            - Theo dõi tiến triển của đỏ da, số lượng dịch tiết, mức độ dày da và cảm giác ngứa, phát hiện các biến chứng (nếu có) như nhiễm trùng thứ phát, viêm cầu thận kịp thời báo cho Bác sỹ.
            - Thực hiện dùng kháng sinh và kháng histamin theo y lệnh
7.1.5. Đánh giá kết quả
            - Da nhạt màu dần, đỡ ngứa
            - Mụn nước và dịch tiết ngày càng ít.
            - Da khô, tróc vảy da, không có tổn thương mới xuất hiện
7.3. Với bệnh nhân là người tớn
7.31. Nhận định chăm sóc
            - Tổn thương da thường mạn tính dày da, thâm da, ngứa dai dẳng
            - Có hiện tượng dị ứng khác kèm theo
7.3.2. Chẩn đoán chăm sóc
            - Dày sưng tại tổn thương.
            - Bệnh dị ứng kèm theo
7.3.3. Kế  hoạch chăm sóc (Mục tiêu chăm sóc)
            - Cải thiện tình trạng bệnh hiện tại:
                        + Hạn chế kích thích, chà sát tổn thường.
                        + Hạn chế dày da tại tổn thương
7.3.4. Thực hiện chăm sóc
            - Tại chỗ bôi hoặc băng bịt bằng mỡ corticoide, mỡ bạt da bong vảy như: benzosaly,
salisilic, fluciar....
            - Thuốc bôi tại chỗ phải tuỳ thuộc vào giai đoạn, không nên dùng thuốc bôi có nồng độ
cao hoặc bôi trên diện rộng.
            - Các thuốc có thành phần corticoide không nên bôi kéo dài
            - Theo dõi mức độ dày da và cảm giác ngứa, phát hiện các biến chứng hoặc các biểu hiện dị ứng khác kèm theo kịp thời báo cho Bác sỹ.
            - Thực hiện kháng histamin theo y lệnh.
7.3.5. Đánh giá kết quả
            - Lớp sừng tại tổn thương mỏng dần, da đỡ thâm, ngứa ít
            - Bệnh lý dị ứng khác được cải thiện tốt hơn
7.4. Theo dõi, tư vấn giáo dục sức khoẻ
            - Giải thích cho người nhà bệnh nhân: bệnh viêm da cơ địa là bệnh hết sức khó khăn và phức tạp trong dự phòng và điều trị bởi vì ngoài các tác nhân gây bệnh, yếu tố cơ địa khó có thể thay đổi được, bệnh hay tái đi, tái lại.
            - Thực hiện vệ sinh trong ăn uống, vệ sinh môi trường và nơi ở xung quanh. Hạn chế tiếp xúc với các yếu tố kích thích da như các yếu tố vật lý, hoá học...
            - Kiểm tra sức khoẻ định kỳ hàng năm để phát hiện những biểu hiện lâm sàng hay những rối loạn bất thường có thể tương ưng với viêm da cơ địa.
            - Trong quá trình điều trị cần hạn chế gãi hoặc chà sát lên tổn thương, tránh biến chứng tại chỗ


Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

VIÊM DA CƠ ĐỊA CÓ LÂY KHÔNG?



Viêm da trên cơ địa dị ứng (Phần 1)

Viêm da trên cơ địa dị ứng (viêm da dị ứng rải rác) là một bệnh về da mạn tính trong đó da xảy ra hiện tượng viêm. “Cơ địa dị ứng” liên quan đến những bệnh có tính chất di truyền theo gia đình bao gồm hen, bệnh sốt mùa hè và viêm da dị ứng rải rác. Trong viêm da dị ứng rải rác, da trở nên ngứa và viêm dữ dội khiến nó đỏ, sưng, rạn nứt, rỉ nước, đóng và bong tróc vảy.
Viêm da do cơ điạ dị ứng là gì?
 Viêm da trên cơ địa dị ứng (viêm da dị ứng rải rác) là một bệnh về da mạn tính trong đó da xảy ra hiện tượng viêm. “Cơ địa dị ứng” liên quan đến những bệnh có tính chất di truyền theo gia đình bao gồm hen, bệnh sốt mùa hè và viêm da dị ứng rải rác. Trong viêm da dị ứng rải rác, da trở nên ngứa và viêm dữ dội khiến nó đỏ, sưng, rạn nứt, rỉ nước, đóng và bong tróc vảy.
Viêm da dị ứng rải rác hầu hết xảy ra ở nhũ nhi và trẻ nhỏ nhưng cũng có thể diễn tiến đến lúc trưởng thành hoặc có thể xảy ra lần đầu tiên lúc lớn tuổi. Trong hầu hết trường hợp thì bệnh có những giai đoạn nặng lên được gọi là đợt kịch phát, tiếp sau đó là giai đoạn thuyên giảm, trong đó tình trạng da được cải thiện hoặc lành lặn hoàn toàn.
Nhiều trẻ mắc bệnh viêm da dị ứng rải rác lui bệnh hoàn toàn khi lớn mặc dù da vẫn còn khô và dễ bị kích thích. Đối với  những người có cơ địa dị ứng di truyền này thì yếu tố môi trường có thể làm khởi phát các triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác vào bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời.
Sự khác biệt của viêm da dị ứng rải rác và chàm (eczema)
Chàm (eczema) là một thuật ngữ chung cho nhiều loại viêm da trong đó viêm da dị ứng rải rác là loại thường gặp nhất. Một số dạng khác cũng có các triệu chứng tương tự. Sau đây là sơ lược một số loại chàm.
Các loại chàm (eczema).
Viêm da dị ứng rải rác:là một bệnh da mạn tính đặc trưng bởi hiện tượng ngứa, da bị viêm.
Eczema tiếp xúc: là một phản ứng khu trú bao gồm đỏ, ngứa và nóng tại vùng da tiếp xúc với dị nguyên (là chất gây dị ứng) hoặc với một chất kích thích như acid, dung dịch tẩy rửa, các loại hoá chất khác.
Eczema dị ứng do tiếp xúc : là một phản ứng đỏ, ngứa, rỉ nước tại vùng da tiếp xúc với một chất mà hệ thống miễn dịch của cơ thể xem là vật lạ như cây sơn độc hoặc một số chất bảo quản trong kem, thuốc rửa vết thương.
Eczema tiết nhờn: là một dạng viêm da chưa rõ nguyên nhân, biểu hiện những mảng da vàng, đóng vảy, nhờn trên da đầu, mặt và đôi khi ở các phần khác của cơ thể.
Eczema đồng xu: những mảng hình đĩa hay hình đồng tiền trên da bị kích thích có thể đóng, bong vảy và rất ngứa, vị trí thường ở tay, lưng , mông và cẳng chân.
Viêm bì thần kinh: những mảng da đóng vảy ở đầu, cẳng chân, cổ tay hoặc cẳng tay do một vết ngứa khu trú (như khi bị côn trùng cắn) và có thể tăng kích thích nếu gãi.
Viêm da tắc nghẽn: là một tình trạng da vùng cẳng chân bị kích thích thường liên quan đến các vấn đề của hệ tuần hoàn.
Eczema loạn tiết mồ hôi: tình trạng kích thích da lòng bàn tay hay bàn chân đặc trưng bởi những bọc nước lớn gây ngứa và nóng.
Viêm da dị ứng rải rác có hay gặp không?
Viêm da dị ứng rải rác rất hay gặp. Bệnh tác động như nhau ở cả nam giới lẫn nữ giới và chiếm khoảng 10%-20% các trường hợp khám bác sĩ da liễu. Viêm da dị ứng rải rác hay xảy ra nhất ở nhủ nhi và trẻ em và xuất độ giảm rõ rệt theo tuổi. Người ta ước lượng khoảng 65% bệnh nhân bị bệnh vào năm đầu tiên của cuộc đời và nếu tính các trường hợp mắc bệnh trước 5 tuổi thì chiếm khoảng 90%.
Bệnh hiếm khi khởi phát sau 30 tuổi và nếu có thì thường là sau khi da tiếp xúc với những điều kiện khắc nghiệt. Đối với những người dân sống ở đô thị và những vùng khí hậu có độ ẩm thấp thì nguy cơ mắc phải viêm da dị ứng rải rác dường như cao hơn.
Có khoảng 10% trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ biểu hiện các triệu chứng của bệnh. Gần 60% những trẻ nhũ nhi này sẽ tiếp tục có một hoặc nhiều triệu chứng của viêm da dị ứng rải rác thậm chí khi đã trưởng thành.
Nguyên nhân của viêm da dị ứng rải rác
Nguyên nhân vẫn chưa được rõ, nhưng có lẽ là do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và môi trường. Các bằng chứng đã gợi ý rằng bệnh hay đi cùng nhóm bệnh có cơ địa dị ứng như bệnh sốt mùa hè và hen vốn rất hay xuất hiện ở những người viêm da dị ứng rải rác.
Thêm vào đó, nhiều trẻ bị viêm da dị ứng rải rác cũng bị sốt mùa hè và hen suyễn. Mặc dù không phải một bệnh này gây ra một bệnh khác nhưng chúng có liên quan đến nhau do đó là cơ sở để các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về viêm da dị ứng rải rác.
Trước đây, người ta nghĩ rằng viêm da dị ứng rải rác là do rối loạn cảm xúc. Ngày nay thì chúng ta biết rằng những yếu tố xúc cảm như stress chỉ thúc đẩy chứ không phải là nguyên nhân gây bệnh.
Viêm da dị ứng rải rác có lây nhiễm?
Câu trả lời là KHÔNG. Viêm da dị ứng rải rác hoàn toàn không lây nhiễm nghĩa là nó không thể truyền từ người này sang người khác. Do đó không có gì phải e ngại khi sống gần ai đó đang trãi qua thời kỳ hoạt động của viêm da dị ứng rải rác. 
Các triệu ứng của viêm da dị ứng rải rác là gì?
Các triệu chứng thay đổi tùy người. Triệu chứng hay gặp nhất là da khô, ngứa, nứt nẻ vùng da sau tai và nổi ban ở hai má, tay và chân. Ngứa là yếu tố quan trọng trong viêm da dị ứng rải rác khiến người bệnh gãi, chà xát  do đó làm nặng thêm tình trạng viêm da.
 Người bệnh rất nhạy cảm với ngứa và thúc đẩy nhu cầu gãi lâu hơn từ đó đi vào một tình trạng gọi là chu kỳ “ngứa-gãi”. Ngứa lại là một vấn đề đặc biệt trong lúc ngủ khi khả năng kiểm soát gãi bị giảm đi và cảm giác ngứa tăng lên do mất các kích thích bên ngoài khác.
Ảnh hưởng của viêm da dị ứng rải rác lên da thay đổi theo thói quen gãi và nhiễm trùng da đi kèm. Một vài người do hệ miễn dịch bị hoạt hoá quá mạnh nên da vùng đó bị đỏ, đóng vảy; một số khác do gãi và chà xát nhiều nên da trở nên dày, dai. Hiện tượng này được gọi là “liken hoá” hay là “hằn cổ trâu”.
Một số nhỏ khác thì xuất hiện những nốt sần hay những vết sưng nhỏ trên da. Khi gãi những nốt sần này, chúng có thể vỡ ra, đóng vảy và nhiễm trùng. Các tính chất của da bệnh sẽ được đề cập bên dưới. Chúng cũng có thể xuất hiện ở những người không bị bệnh hay bị các bệnh về da khác.
Viêm da có ảnh hưởng đến khuôn mặt không?
CÓ. Viêm da dị ứng rải rác có thể ảnh hưởng đến vùng da xung quanh mắt, mi mắt, lông mày và lông mi. Gãi vùng quanh mắt có thể làm thay đổi da vùng đó. Một vài người viêm da dị ứng rải rác có nhiều nếp gấp da xung quanh mắt gọi là nếp gấp trên cơ địa dị ứng hay nếp Dennie-Morgan.
Những người khác có thể có tăng sắc tố vùng mi mắt nghĩa là da vùng đó sậm màu do phản ứng viêm hay sốt mùa hè (mắt thâm do dị ứng). Gãi hay chà xát có thể cũng có thể khiến lông mày và lông mi xuất hiện những vết lốm đốm.
Loại da trong viêm da dị ứng rải rác có quan trọng không?
CÓ. Những khác biệt giữa da của những người bị viêm da dị ứng rải rác có thể góp phần vào những triệu chứng của bệnh. Lớp ngoài cùng của da là thượng bì được chia làm hai phần: phần bên dưới bao gồm các tế bào sống, ẩm ướt trong khi lớp ngoài bao gồm các tế bào đã chết, khô, bằng phẳng.
Bình thường, lớp ngoài cùng  đóng vai trò như một hàng rào giữ cho phần còn lại của da khô ráo và bảo vệ các lớp khác không bị tổn thương do những chất kích thích, nhiễm trùng. Khi hàng rào này bị tổn thương hoặc mỏng đi, các chất kích thích sẽ tác động lên da mạnh hơn.
Da của bệnh nhân viêm da dị ứng rải rác mất nhiều độ ẩm trong lớp thượng bì dẫn tới rất khô và do đó làm giảm tính bảo vệ. Thêm vào đó, da sẽ rất nhạy cảm đối với các bệnh lý có tính chất chu kỳ như nhiễm trùng da do liên cầu và tụ cầu, mụn cóc, nhiễm herpes simplex và u mềm biểu mô (một bệnh do siêu vi).
Các tính chất da trong viêm da dị ứng rải rác
“Liken hoá” hay “hằn cổ trâu”: da dày, dai do gãi hay cọ sát liên tục.
Nốt sần: những vết sưng nhỏ có thể vỡ ra khi gãi, có thể đóng vảy và nhiễm trùng.
Bệnh vảy cá: những mảng đóng vảy hình tứ giác, khô trên da.
Bệnh dày sừng nang lông: những vết sưng tròn,nhỏ thường ở mặt, cánh tay và đùi.
Tăng đường chỉ tay: gia tăng số lượng nếp da trong lòng bàn tay.
Nổi mề đay: những vết sưng đỏ thường là sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, tại thời điểm bắt đầu vùng da tổn thương, hoặc sau khi tập thể dục, tắm nước nóng.
Viêm môi: hiện tượng viêm ở trên và xung quanh môi.
Nếp Dennie-Morgan: nhiều nếp gấp da dưới mắt.
Tăng sắc tố mi mắt: mi mắt sậm màu sau phản ứng viêm hay sốt mùa hè.